Thời vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) là khúc giao thời rực rỡ, đưa xã hội thoát ly khỏi dư chấn chiến tranh và nạn cát cứ để bước vào kỷ nguyên thống nhất. Khi bắt đầu triều đại, các thế lực địa phương và các dòng tộc lớn tuy không còn nắm sức mạnh quân sự riêng biệt nhưng các thủ lĩnh địa phương vẫn có thể nổi dậy và tranh giành quyền lực hoặc đòi quyền tự trị. Hơn nữa quy tắc truyền ngôi chỉ mới bắt đầu thống nhất để ngăn chặn việc tranh chấp đẫm máu giữa các hoàng tử và các thế lực ngoại thích.
Hình Thư triều nhà Lý là bộ luật đầu tiên của Việt Nam được ban hành bởi vua Lý Thái Tông năm 1042, là tiền đề cho tư duy lập pháp của đất nước sau này. Bộ luật này mang tính thống nhất cao, đề cao vị thế vua và hoàng gia, chú trọng tạo điều kiện cho sự phát triển văn minh nông nghiệp nước nhà,...
Phật giáo thời Lý là Quốc giáo, ảnh hưởng chi phối đến cả chính trị và pháp luật. Vua Lý Thái Tông và các vua đời sau lấy sự từ bi và "đức trị" làm gốc. Nhiều điều luật cho phép người già, trẻ nhỏ hoặc người phạm tội nhẹ được nộp tiền chuộc tội thay vì chịu hình phạt thể xác (như chịu trượng, tù đày), giảm nhẹ hình phạt hoặc hoãn thi hành án cho người đang chịu tang (đặc biệt là tang cha mẹ), nhà vua cũng thường xuyên ban lệnh đại xá, giảm án cho tù nhân nhân các dịp lễ hội Phật giáo lớn hoặc khi xây dựng chùa chiền để tích đức cho quốc gia. Tuy nhiên, một số sử gia về sau này phê phán rằng luật pháp vì đề cao sự độ tha mà có nhiều lỗ hổng, nhà vua vì lòng trắc ẩn của đạo Phật mà tha bổng những kẻ nguy hại, bỏ qua sự nghiêm minh của pháp luật và trọng trách với quốc gia. Như khi Nùng Trí Cao làm phản, Lý Thái Tông bắt được không giết mà lại phong tước Thái bảo, gián tiếp dẫn đến Nùng Trí Cao có cơ hội tiếp tục phản nghịch gây tai hoạ. Hay cũng có phê phán cho rằng các đời vua Lý thiên vị Phật Giáo mà bỏ qua nghĩa lớn với đất nước, như vua Lý Thần Tông quy công đánh giặc cho Phật và đạo, đi các chùa quán lạy tạ mà không uý lạo tướng sĩ.